Bút kí - Xuân Đức
Nhà Phật nói: mọi sự trên đời đều ở một chữ "duyên". Bây giờ nhìn lại đôi khi chính tôi cũng không ngờ mảnh đất nhỏ nhoi bên bờ sông Hiếu ấy lại khắc đậm dấu ấn trong sự nghiệp sáng tác của mình đến vậy.
Những bạn đọc quan tâm đến sáng tác của tôi, nhìn vào các tác phẩm chủ yếu ( hai tiểu thuyết quan trọng nhất là Cửa gió - Bến đò xưa lặng lẽ và một loạt các kịch bản sân khấu, điện ảnh) thường có hai luồng nhận định. Một là, cái nhà ông này giỏi bịa, ông ta chỉ là lính cậu ( tức là lính văn nghệ đâu có biết gì đánh đấm), hai là ngược lại, cho rằng tôi là anh lính chiến hàng chục năm cầm súng đánh giặc trên đất Cam Lộ, nếu không thì làm sao có thể có được vốn sống sâu sắc về đất ấy đến như vậy ? Đặc biệt là những tên làng, tên đất như Ba Thung, Quật Xá, An Hưng, Tân Định, Phước Tuyền... những bến lội sông Hiếu, xóm nhỏ Quai mọ v..v..chắc chắn tôi phải ăn dầm nằm dề bao nhiêu năm mới có thể có ấn tượng sâu sắc đến như thế. Thực ra, đất Cam lộ chỉ gắn bó với tôi vẻn vẹn chừng bốn tháng, một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với hơn 40 năm công tác, cũng như 24 năm 9 tháng khoác áo lính lăn lộn trên nhiều miền đất khác nhau mà cũng vô vàn khốc liệt như ở tuyến lửa Vĩnh Linh- Quân khu bốn.. Có phải đó chính là cái duyên như Phật nói ?
Tôi là một trong những thằng lính có mặt đầu tiên khi Tiểu đoàn 47- bộ đội địa phương Vĩnh Linh thành lập ngày 26 tháng 5 năm 1965. Đầu năm 1966 đơn vị được lệnh lên đường vào chiến trường. Lúc đó tôi chỉ là cậu học trò mới rời ghế nhà trường, đầu óc còn rất mơ mộng. Có hai thứ mà tôi khao khát muốn biết. Một là hai tiếng chiến trường, hai là cái tên: Trường sơn ! Tôi thèm muốn được đắm mình vào hai không gian đó để xem nó thế nào, có giống như những gì mà thơ ca lúc bấy giờ đang ca tụng. Chúng tôi làm lễ xuất quân tại một bãi đất cát Vĩnh Tú lúc 4 giờ chiều, sau đó bắt đầu hành quân, đi ròng rã một đêm đến mờ sáng thì gặp một con suối nhỏ. Vừa bước chân lội qua, ai đó reo lên: Sông Bến Hải đây !Tôi đờ người ra vì kinh ngạc.
Là con em Vĩnh Linh, chúng tôi còn lạ gì con sông Hiền Lương- Bến Hải. Từ nhà tôi cho dù đi bộ chậm rãi nhất thì cũng chỉ nửa buổi là đến cầu Hiền Lương. Hằng ngày chúng tôi vẫn đi gặt lúa hay chân bò ở sát bờ sông. Nay thì hành quân đi chiến trường, âm thầm suốt cả một đêm trong sự mỏi nhừ thân xác và cháy bỏng nỗi mong chờ được tới chiến trường thì..mới đến được sông Hiền Lương ? Tôi ngồi bệt xuống bên kia suối mà thấy ngao ngán. Cái mỏi mệt càng thêm ê chề. Về sau chúng tôi được hiểu rằng, vì lí do giữ bí mật, đơn vị phải hành quân ngược lên phía tây rồi mới quặt xuống. Đoạn suối mà chúng tôi vượt qua thuộc thượng nguồn sông Bến Hải, gọi là Bến Tắt, nay là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.
Từ bên kia con suối Bến Tắt chúng tôi được hành quân ban ngày, đi theo những con đường mòn nhỏ xuyên qua lùm bụi rậm rịt, lau lách dày đặc rồi những tán cấy rừng già tối um. Chúng tôi đã cảm nhận được không gian Trường Sơn. Hoá ra, Trường Sơn không phải là những vệt núi xa mờ huyền ảo mà hằng ngày đứng trên đất Vĩnh Linh nhìn lên phía tây hun hút, Trường Sơn ở ngay sát nách quê tôi, ngay bên kia thượng nguồn sông tuyến. Bây giờ đi lại vùng đất ấy chợt thấy rất buồn cười. Tất cả chỉ còn đồi trọc, người ta trồng mới lên những vùng cao su bạt ngàn. Nhiều lần tôi đã thốt lên : Thế này mà ngày ấy gọi là Trường Sơn ư ?
Đúng là lúc đó chỗ này là Trường Sơn, Trường Sơn chính hiệu. Tiểu đoàn 47 đóng hậu cứ giữa vùng rừng già Trường Sơn ấy. Vị trí ẩn mình của tiểu đoàn là vùng giáp giới giữa đất Gio Linh và Cam lộ. Từ hậu cứ theo hướng tây-nam chỉ đi vài chục phút là đến vùng đồi An Thái, Ba Thung, vượt qua khỏi đó là vào thôn Kim Đâu, Kim Bình rồi bắt đầu xắn cao quần lội qua sông Hiếu. Bên kia là Quật Xá,Tân Định, An Hưng, Phước Tuyền, quận Cam lộ. Đôi khi chúng tôi còn vượt đường Chín qua đèo Cùa để lên Cam Chính, Cam Nghĩa, có khi dấu quân trên núi Đá bạc để lộn trở về đánh bốt Cây số 10 trên đường Chín. Còn từ hậu cứ xuôi theo hướng đông -nam là đất Gio Linh, qua khe Me, khe Mướp là leo lên vùng đồi đất đỏ Cồn Tiên rồi chọc thẳng về Long Sơn, Hảo Sơn hay Dốc Miếu, Cồn mả đỏ..Còn nếu gặp bất trắc thì từ hậu cứ, chúng tôi có thể quay lui hướng bắc là gặp bến Hói cụ hay Bến tắt, vượt qua là về bờ bắc, đất Vĩnh Linh. Quả thật là một thế đứng chân công thủ hữu tiện. Tất nhiên đó là suy xét của tôi bây giờ, chứ ngày đó tôi chỉ là thằng lính trơn, bảo ở đâu thì biết đó, chẳng suy nghĩ gì hết. Ngày đó Chính trị viên tiểu đoàn cho chúng tôi một câu khẩu hiệu như là thần chú phải nhập tâm : Cắm sâu, cắm lâu, cắm chắc ; nhổ nhanh, nhổ mạnh, nhổ đều. Như thế đủ hiểu cái thế đứng chân phải làm sao để "nhổ nhanh" được.
Năm 1966 Trung ương chủ trương mở mặt trận bắc Quảng Trị, mục tiêu là kéo kẻ địch ra đường Chín để tạo điều kiện cho các mặt trận trong nam tổng tiến công. Tiểu đoàn địa phương chúng tôi chính là đơn vị đầu tiên vào " chọc tức" bọn Mỹ Nguỵ để chúng bung ra, khoảng nửa năm 1966 thì các binh đoàn chủ lực mới tràn vào và mặt trận bắc Quảng Trị mới thật sự bùng nổ. Đây là những năm tháng bi hùng nhất của chiến trường Quảng Trị. Với nhiệm vụ đó, thời gian đầu đơn vị được chia nhỏ thành nhiều tổ phối hợp với cán bộ địa phương thọc sâu xuống từng ấp, thôn gây dựng cơ sở, trừng trị ác ôn, phát động nhân dân khởi nghĩa lập chính quyền cách mạng. Quật Xá chính là ấp mà tôi vào ra nhiều nhất. Cũng chính những ngày tháng đó, tôi đã được quen biết và cùng hoạt động với nhiều cán bộ cốt cán của Huyện uỷ Cam lộ, có người thì vài ba tháng, có người chỉ một hai lần cùng đi vào cơ sở, nhưng tất cả đều đã để lại cho tôi những ấn tượng sâu đậm đến hàng chục năm sau cũng không thể lẫn nhoà. Đó là anh Đen, anh Kha, chị Sáng ..và đặc biệt nhất là anh Biên, anh Kỳ..
Anh Biên- một con người thô tháp, xương xẩu, hai vành môi to, đôi mắt cũng to và rất sáng. Nhìn anh có vẻ hơi "dữ tướng", nhưng thực ra lại rất sởi lởi. Tôi được gần anh chỉ trong khoảng một tháng, cùng vào ra ấp Quật Xá khoảng năm , bảy lần gì đó, nhưng ấn tượng vầ con người này đối với tôi là rất mãnh liệt.Hồi đó Biên nổi tiếng nhất vùng này, bọn địch ở Cam Lộ đã treo giải thưởng hàng trăm cây vàng cho ai hạ sát được anh. Nhìn cách thức anh vào ấp, truy bắt bọn ác ôn hay lính nghĩa quân, cách anh tiếp xúc với cơ sở, đối với tôi lúc đó, Biên như là một nhân vật của Lương Sơn Bạc trong truyện Thủy Hử. Thế mà bất ngờ sau đó, tôi nghe tin anh bị bắt và bàng hoàng hơn là..Biên đã chiêu hồi. Lúc đó người thay Biên để dắt dẫn chúng tôi vào ấp là anh Kì. Suốt thời gian đó, anh Kỳ không hề kể thêm cho tôi biết gì về anh Biên cả. Cuối năm 1967, lúc đó tôi đã ra bắc và tham gia đội Tuyên truyền văn hóa Vĩnh Linh đi ra biểu diễn Đại hội mừng công Quân Khu 4 tại Tân Kỳ, bất ngờ gặp đoàn cán bộ huyện Cam Lộ, trong đó có anh Đen. Tôi tranh thủ hỏi tin tức về anh Biên. Nhưng có vẻ các anh ấy cũng không hào hứng gì, chỉ nói sơ sơ là chính các anh cũng không hiểu được chuyện gì đã xẩy ra, rằng Biên đã được thả về ở tại làng, lại còn cưới thêm một người vợ khác..( ngoài người vợ đang ở Vĩnh Linh )..Thú thực, ngay cả lúc ấy, tôi vẫn cứ thấy ngờ ngợ về câu chuyện chiêu hồi của Biên, tuy nhiên tôi chẳng có căn cứ gì cả. Mười lăm năm sau, tôi có gặp lại một người trước đây cực kì gần gũi với anh Biên nay đang giữ một trọng trách quan trọng của thị xã, tôi hỏi anh Biên còn sống không, thực chất câu chuyện chiêu hồi dạo trước thế nào..Điều kỳ lạ là nhân vật đó đã lại lãng tránh câu hỏi của tôi, thậm chí còn tỏ ra ngơ ngác như không thể nhớ nổi Biên là ai !..Thêm 20 năm nữa, khi tôi đã là một cán bộ của tỉnh Quảng Trị, trong một lần vui vẻ "ôn cố tri tân" tôi lại gợi chuyên cái vị cán bộ đó về anh Biên, bày tỏ mong muốn tìm lại được anh, thì..thật kỳ là, vị ta lại thêm lần nữa đánh trống lãng. Mối nghi ngờ trong tôi càng tăng. Tôi càng quyết tâm hơn trong việc tìm ra địa chỉ con người này. Cuối cùng tôi đã tìm được. Và chỉ một buổi sáng hàn huyên tâm sự, tất cả sự nghi ngại bốn chục năm nay đã được sáng tỏ. Sau đó tôi đã quay trở lại Quật Xá , tìm gặp vài cơ sở cũ để xác nhận những điều anh Biên kể. Bây giờ tất cả đã già, chẳng ai phải lo sợ chuyện gì nữa, vì thế họ đã xác nhận sự thật. Tôi bàng hoàng trước những chuyện tày đình về một số phận bị vùi lấp dưới bao nhiêu tầng bụi bậm. Một số phận mà sự oan ức cứ như là định mệnh của đời anh. Đấy chính là nhân vật Đọt trong tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ.
*
Những năm tháng " bén duyên" với Cam Lộ, tôi tuyệt nhiên không có chút ý thức gì về chuyện sau này sẽ thành người sáng tác. Tôi không xét đoán, nhận định hay suy ngẫm gì hết. Như một đưa trẻ lần đầu tiên ra khỏi xóm nhỏ làng mình, lạc vào một thế giới vô cùng xa lạ, sống những ngày quá đặc biệt nên đã hằn lại trong trí nhớ của tôi tất cả những gì mà tôi chạm mặt. Tất cả đều quá sức tưởng tượng của tôi. Ví như cái làng Kim Đâu, Kim Bình bên này sông Hiếu, một mảnh làng rất đẹp nhưng không có dân. Lần đầu đi qua là ban đêm, chúng tôi không thể nhìn bao quát được làng, chỉ được cán bộ địa phương cho biết, dân đã bị lùa qua bên kia sông ( phía Quật Xá) bỏ lại nhà cửa làng mạc, trống hoang.Các bạn có thể hình dung một mảnh làng nào đó bỏ hoang, không người nhưng cũng không còn nhà cửa hoặc là đã xơ xác tàn lụi..Có lẽ như thế lại là bình thường. Đằng này, làng vẫn rất sầm uất, nhà cửa i nguyên, cây vườn tươi tốt, nhưng lại im bặt tiếng người..Tôi cứ bần thần mãi rồi chợt nhớ tới câu thơ Đường mà Nguyễn Du từng vận dụng trong Kiều : Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông..
Chúng tôi hành quân theo một con đường mòn nhỏ đi tắt qua một mảnh vườn cam. Cây cam thấp, quả chĩu cành buông xuống đập cả vào chân chúng tôi. Kỉ luật dân vận là không được đụng vào cái kim sợi chỉ của dân, nói cụ thể là dù cam vướng vào chân nhưng tuyệt đối không được hái. Khi đi vào ấp thì không có vấn đề gì xẩy ra, nhưng đến lúc quay về cứ, đi qua khỏi vườn một đoạn bỗng có lệnh dừng lại. Chúng tôi chưa hiểu chuyện gì xẩy ra thì thấy trung đội trưởng đi ngược hàng quân ghé mũi hít hít vào từng mồm chiến sĩ.( Bạn đã từng bị ai đó hít hít vào mồm lần nào chưa ? Tất nhiên là trừ chuyện yêu đương ) Thì ra ai đó đã hái trộm một quả và bóc ăn nên mùi thơm bốc ra và bị phát hiện...Những chuyện như thế đối với đứa học trò như tôi là không sao tưởng tượng nổi.
Muốn đột nhập vào ấp Quật Xá phải vượt qua sông Hiếu ở một bến lội. Đoạn sông chỗ này nông, người cao trung bình như tôi khi lội chỉ cần xắn ống quần lên cao hết cỡ là nước không thể chạm tới. Tuy nhiên đáy sông lại toàn là đá cuội, rất trơn, rất dễ trượt chân. Nếu để trượt chân, nghiêng người một cái thì ống quần sẽ nhúng nước. Và đó là một tai hoạ. Ngày đó trong quân trang chúng tôi mặc, có loại áo quần bằng vải Liên Xô viện trợ, nó cực dày. Khi không bị ướt thì vẫn mềm mại bình thường, nhưng nhúng vào nước nó cứng như mo cau, có thể dựng đứng cả chiếc quần tựa vào gốc cây được. Đang hành quân mà gặp mưa, hoặc lội sông bị ướt, vải cứng lại cà xát vào háng hoặc đùi gây loét da ngay. Nhưng tai hại hơn là khi đi vào trong ấp, mặc dù mệnh lệnh là tuyệt đối không được phát ra tiếng động, nhưng hai ống quần vẫn cà vào nhau loạc xoạc. Đêm càng vắng, người càng nín thở thì tiếng loạc xoạc càng to. Những lúc như thể chỉ còn biết trào nước mắt.
Bờ bên kia bến lội có một gốc duối tàu ( có người gọi là dưới tàu), thân già sù sì, tán lá rậm rịt. Đêm nào vượt sông qua đến đó, chúng tôi cũng nép mình vào gốc duối quan sát vài ba phút, thấy không có động tĩnh gì thì mới đột nhập vào ấp. Không biết đã bao nhiêu đêm như thế, gốc duối già nơi bến lội ấy đã trở thành cái mốc cắm sâu vào ký ức tôi, theo tôi đi cùng nam cuối bắc. Ngay ngày đầu mới giải phóng Quảng Trị- năm 1973- khi được trở lại Đông Hà, tôi đã mượn một chiếc xe đạp gò lưng đạp ngược đường Chín hơn 15 cây số tìm về Quật Xá, chạy vội ra bến lội để được nhìn lại gốc duối ngày nào. May quá, nó vẫn âm thầm đứng đó như cố tình chờ tôi. Và cho đến tận hôm nay, rất nhiều lần tôi trở lại, cây duối vẫn còn, tuy đã quá già nhưng cành lá hẵng còn sum suê. Tôi mong đừng ai chặt phá đi, cho dù nó cũng chẳng có ích lợi gì lắm cho sự phát triển kinh tế hiện nay. Thì nó cũng như tôi thôi, không còn có ích gì nhiều nữa, nhưng là chứng nhân của một thời đấy.
Ký ức về những mảnh làng ở Cam lộ đối với tôi hầu hết là không gian đêm. ( Mặc dầu tôi cũng đã mấy lần đột nhập vào Quật Xá ban ngày dưới sự chỉ huy của anh Biên để bắt ác ôn, tuy nhiên những lần như thế căng thẳng quá, vào thì lao như tên bắn, rồi lại quáng quàng chạy ra, thành thử chẳng có chút cảm xúc nào. Còn có một lần tôi được giao nhiệm vụ cùng anh Kỳ bí mật nằm trên đồi An Thái cả ngày để theo giõi tình hình chuyển quân của địch phía bên kia đường Chín, thì xa quá, cũng chẳng nhìn rõ làng mạc ở bên kia sông. Chỉ đến đêm mới đột nhập vào ấp thì thật tuyệt vời, nhưng chuyện đó tý nữa mới kể ).
Cả đại đội âm thầm hành quân đi qua một trãng rộng nằm lọt thõm giữa những bìa rừng. Tôi không biết đây là đâu, chỉ biết nơi này là một trọng điểm của đạn cối địch từ cao điểm Cồn Tiên rót xuống. Đại đội vừa đi, vừa chạy gần 4 giờ đồng hồ, chân mỏi dừ, mắt ríu lại vì buồn ngủ. Bỗng người đi trước khẽ quay lại truyền lệnh : Ngồi nghỉ 10 phút ! Chỉ chờ có thế, tôi quay nhanh ra người phía sau truyền nối mệnh lệnh rồi ngồi phịch xuống cỏ. Cơn buồn ngủ ập xuống liền. Có người không kịp ngồi cho thẳng người đã cất tiếng ngáy như kéo gỗ. Hành quân đêm ở chiến trường là thế. Việc vừa đi vừa ngủ không phải chuyện hiếm. Bất ngờ từ cuối hàng quân, đại đội phó lụi cụi chạy lên, dáng đầy hốt hoảng. Ông cứ cúi xuống xô vào vai từng người, răng nghiến lại : Ai cho ngồi nghỉ ở đây há ? Lính vừa ngái ngủ vừa trả lời : Báo cáo đại phó, phía trước truyền xuống thế. - Trước nào ? Ông lại xô tiếp vào vài chiến sĩ ngồi trên- Điên hết rồi, đây là cái túi pháo, muốn chết hay sao ? Ai truyền lênh ? - Dạ..phía trên kia ạ. Chúng tôi chỉ biết vậy nên cũng chỉ trả lời vậy. Trả lời xong là lại ngáy liền. Người đại đội phố vẫn lồng lộn chạy tiếp lên phía trên hàng quân, xô vào từng chiến sĩ và hỏi đi hỏi lại mỗi câu ấy. Đương nhiên chiến sĩ cũng chỉ trả lời mỗi câu ấy. Nhưng đến cậu Xinh, một chiến sĩ nuôi quân đang ngồi gục xuống giữa hai chồng soong nồi lổn nhổn thì ông đại đội phó lại nhận được câu trả lời khác - Dạ..họ ngồi cả đám đó, thủ trưởng không thấy à ?
Đại đội phó cố dướn mắt nhìn vào bóng tối trước mặt :- Đâu ? Ai ngồi đâu ?
Xinh quờ tay ra phía trước :- Đó..đó..đầy bãi ra đó..Đại đội phó lò dò tiến lên phía trước..Rồi bất ngờ ông kêu trời : Cha mẹ ơi, Xinh ơi là Xinh, mi mở to mắt ra mà nhìn này..Người ngồi đây hả ? Trời ơi, chừ thì đứt mất đội hình rồi, biết hành quân đi hướng nào ! Rồi ông quát to : Dậy, chạy nhanh, chết cả nút bây giờ ! Tất cả chúng tôi bật dậy, quáng quàng chạy. Thì ra, trước mặt không hề có ai ngồi cả mà chỉ đầy bãi những cây bai bái ( một loại cây dại lúp xúp thấp hơn đầu gối người ). Cậu Xinh vì quá mệt và buồn ngủ ríu mắt lại nên nhìn thấy thế tưởng bộ đội đã ngồi nghỉ, hắn tự động phát ra mệnh lênh. Cú đó may mà đơn vị không ai bị thương vong vì pháo, nếu không, cậu anh nuôi tội nghiệp ấy đã lãnh đủ.
Trở lại chuyện cái ngày tôi và anh Kỳ được giao nhiệm vụ nằm trên đồi An Thái theo giõi tình hình chuyển quân của địch bên đường Chín. Suốt cả một ngày nằm trên đồi, ăn thì đã có cơm vắt, khát thì có bi đông nước mang theo. Nhưng riêng tôi có một nhu cầu rất đau khổ là thèm thuốc. Tôi nghiện thuốc lá từ ngày còn nhỏ ở nhà. Vào chiến trường, thuốc hút của bọn tôi chủ yếu là thuốc quấn cả lá do xin được từ các đoàn dân công từ ngoài Vĩnh Linh vào. Thỉnh thoảng vào ấp, bà con cơ sở có cho vài gói về làm quà cho cả đơn vị. Chiều đó, tôi thèm thuốc quá, người cứ bứt rứt không yên. Anh Kỳ nhìn tôi đoán được cái khổ sở đó. Khi mặt trời sắp khuất núi, chúng tôi chuẩn bị về cứ, thì bất ngờ Kỳ nói : Anh thèm thuốc lắm phải không ? Tôi như sáng mắt ra, hỏi : có cách gì không ? Có- anh Kỳ gật đầu nhanh- Chừ anh theo tôi về thăm mệ tôi, tôi sẽ xin thuốc cho. Tôi hơi ngớ ra : Mệ ở đâu ?Anh chỉ tay về phía ấp Ba Thung : Chỗ đó, ở thôn giữa..gia đình tôi thuộc diện đặc biệt chú ý nên chúng nó bắt ở thôn giữa. Đã lâu rồi tôi chưa về thăm mệ, đêm nay ta vào đi. Thú thực lúc ấy tôi cũng hơi ngại, nhưng phần thì quá thèm thuốc, phần cũng thấy thương anh Kỳ nên gật đầu luôn. Thế là chúng tôi quyết định vào ấp.
Đấy là một đêm tuyệt vời. Trăng mờ đục, nhưng đất làng pha cát bạc nên khung cảnh làng hiện lên rất rõ. Gió nam lại thổi rất to. Tiếng mo cau cà vào thân cau loạc xoạc, tiếng kẽo kẹt phát ra từ những khóm tre, tiếng gió hú qua các mái tôn nghe ro ro như sáo thổi..Mới đầu hôm mà ấp vắng ngát, im lìm. Anh Kỳ dẫn tôi chui qua hàng rào để vào làng bằng lối đi từ phía sau. Nhà Mệ của anh ở gần chính giữa xóm. Anh bảo tôi gác ở ngoài ngõ, anh chui vào nhà. Tôi ép mình ngồi câm lặng, đảo mắt thư thả nhìn bao quát khắp làng. Chưa bao giờ tôi thấy làng quê Cam Lộ lại đẹp như thế, cái đẹp mơ màng trong tĩnh mạc. Vào giờ đó, hầu như tôi quên mất đây là ấp chiến lược, bốn phía có thể là địch và súng có thể nổ xé đêm bất cứ lúc nào. Ở trong nhà vẫn im lìm không hề phát ra tiếng động, tuy nhiên tôi vẫn có thể hình dung ra bà mệ đang sung sướng thế nào khi được ôm lấy cháu. Gần một giờ sau, anh Kỳ ra, vai khoác chiếc gùi căng. Tôi biết chắc trong đó thế nào cũng có thuốc lá. Anh Ký bảo : hay ta ra bằng cổng chính đi ! Tôi vội nói, không, cứ ra đường cũ, đừng mạo hiểm. Anh gật đầu. Chúng tôi lại theo đường vào để trở ra. Hôm sau mới biết , đó là một quyết định sáng suốt.
Về đến cứ, trước khi chia tay, anh Kỳ cho tôi 5 gói Ro-bi. Tôi định sáng mai sẽ chia cho anh em trong tiểu đội. Câu chuyện tôi lẻn vào ấp, cứ tưởng chỉ hai chúng tôi biết. Không ngờ sau hai hôm, bất ngờ tôi bị Tiểu đoàn trưởng gọi lên. Ông quát phủ đầu : Đêm hôm trước cậu vào ấp làm gì ? Tôi ngớ ra chưa biết thanh minh thế nào thì ông bồi tiếp cho một trận nhừ tử, nào là nguyên tắc hoạt động, cơ sở thuộc tuyến nào phải do tuyến đó tiếp cận, nào là muốn vào ấp phải được lệnh chỉ huy, nào là mình là lính quân đội chỉ phối thuộc với địa phương chứ không phải hoàn toàn theo sự chỉ huy của họ .v..v.. Tôi chỉ còn biết cúi đầu vâng dạ. Sau đó tìm gặp anh Kỳ, hỏi vì sao chỉ huy tôi biết. Anh mới kể, thì ra, khi chúng tôi vào ấp, bọn lính Nghiã quân đã phát hiện. Nhưng chúng nó nhát gan, không dám hành động, bèn kéo nhau ra cổng mai phục, đợi chúng tôi trở ra sẽ nổ súng. Nhưng chúng tôi đã không ra đường cổng chính. Sáng hôm sau, chúng nó vào bắt mệ lên nhà Hội đồng, dọa nạt, kể vanh vách rằng đêm qua thằng Kỳ cùng một tên giải phóng nữa vào, thằng Kỳ vào trong nhà, tên giải phóng ngồi canh ngoài cổng v..v..Đêm sau nữa, tổ công tác của huyện vào bắt liên lạc với mệ, mệ đã kể lại cho họ nghe. Thế là tổ đó về thắc mắc với huyện ủy là anh Kỳ đã tùy tiện đi vào bắt liên lạc trái tuyến. Anh Kỳ cũng bị phê bình như tôi...
Chúng tôi hành quân theo một con đường mòn nhỏ đi tắt qua một mảnh vườn cam. Cây cam thấp, quả chĩu cành buông xuống đập cả vào chân chúng tôi. Kỉ luật dân vận là không được đụng vào cái kim sợi chỉ của dân, nói cụ thể là dù cam vướng vào chân nhưng tuyệt đối không được hái. Khi đi vào ấp thì không có vấn đề gì xẩy ra, nhưng đến lúc quay về cứ, đi qua khỏi vườn một đoạn bỗng có lệnh dừng lại. Chúng tôi chưa hiểu chuyện gì xẩy ra thì thấy trung đội trưởng đi ngược hàng quân ghé mũi hít hít vào từng mồm chiến sĩ.( Bạn đã từng bị ai đó hít hít vào mồm lần nào chưa ? Tất nhiên là trừ chuyện yêu đương ) Thì ra ai đó đã hái trộm một quả và bóc ăn nên mùi thơm bốc ra và bị phát hiện...Những chuyện như thế đối với đứa học trò như tôi là không sao tưởng tượng nổi.
Muốn đột nhập vào ấp Quật Xá phải vượt qua sông Hiếu ở một bến lội. Đoạn sông chỗ này nông, người cao trung bình như tôi khi lội chỉ cần xắn ống quần lên cao hết cỡ là nước không thể chạm tới. Tuy nhiên đáy sông lại toàn là đá cuội, rất trơn, rất dễ trượt chân. Nếu để trượt chân, nghiêng người một cái thì ống quần sẽ nhúng nước. Và đó là một tai hoạ. Ngày đó trong quân trang chúng tôi mặc, có loại áo quần bằng vải Liên Xô viện trợ, nó cực dày. Khi không bị ướt thì vẫn mềm mại bình thường, nhưng nhúng vào nước nó cứng như mo cau, có thể dựng đứng cả chiếc quần tựa vào gốc cây được. Đang hành quân mà gặp mưa, hoặc lội sông bị ướt, vải cứng lại cà xát vào háng hoặc đùi gây loét da ngay. Nhưng tai hại hơn là khi đi vào trong ấp, mặc dù mệnh lệnh là tuyệt đối không được phát ra tiếng động, nhưng hai ống quần vẫn cà vào nhau loạc xoạc. Đêm càng vắng, người càng nín thở thì tiếng loạc xoạc càng to. Những lúc như thể chỉ còn biết trào nước mắt.
Bờ bên kia bến lội có một gốc duối tàu ( có người gọi là dưới tàu), thân già sù sì, tán lá rậm rịt. Đêm nào vượt sông qua đến đó, chúng tôi cũng nép mình vào gốc duối quan sát vài ba phút, thấy không có động tĩnh gì thì mới đột nhập vào ấp. Không biết đã bao nhiêu đêm như thế, gốc duối già nơi bến lội ấy đã trở thành cái mốc cắm sâu vào ký ức tôi, theo tôi đi cùng nam cuối bắc. Ngay ngày đầu mới giải phóng Quảng Trị- năm 1973- khi được trở lại Đông Hà, tôi đã mượn một chiếc xe đạp gò lưng đạp ngược đường Chín hơn 15 cây số tìm về Quật Xá, chạy vội ra bến lội để được nhìn lại gốc duối ngày nào. May quá, nó vẫn âm thầm đứng đó như cố tình chờ tôi. Và cho đến tận hôm nay, rất nhiều lần tôi trở lại, cây duối vẫn còn, tuy đã quá già nhưng cành lá hẵng còn sum suê. Tôi mong đừng ai chặt phá đi, cho dù nó cũng chẳng có ích lợi gì lắm cho sự phát triển kinh tế hiện nay. Thì nó cũng như tôi thôi, không còn có ích gì nhiều nữa, nhưng là chứng nhân của một thời đấy.
Ký ức về những mảnh làng ở Cam lộ đối với tôi hầu hết là không gian đêm. ( Mặc dầu tôi cũng đã mấy lần đột nhập vào Quật Xá ban ngày dưới sự chỉ huy của anh Biên để bắt ác ôn, tuy nhiên những lần như thế căng thẳng quá, vào thì lao như tên bắn, rồi lại quáng quàng chạy ra, thành thử chẳng có chút cảm xúc nào. Còn có một lần tôi được giao nhiệm vụ cùng anh Kỳ bí mật nằm trên đồi An Thái cả ngày để theo giõi tình hình chuyển quân của địch phía bên kia đường Chín, thì xa quá, cũng chẳng nhìn rõ làng mạc ở bên kia sông. Chỉ đến đêm mới đột nhập vào ấp thì thật tuyệt vời, nhưng chuyện đó tý nữa mới kể ).
Cả đại đội âm thầm hành quân đi qua một trãng rộng nằm lọt thõm giữa những bìa rừng. Tôi không biết đây là đâu, chỉ biết nơi này là một trọng điểm của đạn cối địch từ cao điểm Cồn Tiên rót xuống. Đại đội vừa đi, vừa chạy gần 4 giờ đồng hồ, chân mỏi dừ, mắt ríu lại vì buồn ngủ. Bỗng người đi trước khẽ quay lại truyền lệnh : Ngồi nghỉ 10 phút ! Chỉ chờ có thế, tôi quay nhanh ra người phía sau truyền nối mệnh lệnh rồi ngồi phịch xuống cỏ. Cơn buồn ngủ ập xuống liền. Có người không kịp ngồi cho thẳng người đã cất tiếng ngáy như kéo gỗ. Hành quân đêm ở chiến trường là thế. Việc vừa đi vừa ngủ không phải chuyện hiếm. Bất ngờ từ cuối hàng quân, đại đội phó lụi cụi chạy lên, dáng đầy hốt hoảng. Ông cứ cúi xuống xô vào vai từng người, răng nghiến lại : Ai cho ngồi nghỉ ở đây há ? Lính vừa ngái ngủ vừa trả lời : Báo cáo đại phó, phía trước truyền xuống thế. - Trước nào ? Ông lại xô tiếp vào vài chiến sĩ ngồi trên- Điên hết rồi, đây là cái túi pháo, muốn chết hay sao ? Ai truyền lênh ? - Dạ..phía trên kia ạ. Chúng tôi chỉ biết vậy nên cũng chỉ trả lời vậy. Trả lời xong là lại ngáy liền. Người đại đội phố vẫn lồng lộn chạy tiếp lên phía trên hàng quân, xô vào từng chiến sĩ và hỏi đi hỏi lại mỗi câu ấy. Đương nhiên chiến sĩ cũng chỉ trả lời mỗi câu ấy. Nhưng đến cậu Xinh, một chiến sĩ nuôi quân đang ngồi gục xuống giữa hai chồng soong nồi lổn nhổn thì ông đại đội phó lại nhận được câu trả lời khác - Dạ..họ ngồi cả đám đó, thủ trưởng không thấy à ?
Đại đội phó cố dướn mắt nhìn vào bóng tối trước mặt :- Đâu ? Ai ngồi đâu ?
Xinh quờ tay ra phía trước :- Đó..đó..đầy bãi ra đó..Đại đội phó lò dò tiến lên phía trước..Rồi bất ngờ ông kêu trời : Cha mẹ ơi, Xinh ơi là Xinh, mi mở to mắt ra mà nhìn này..Người ngồi đây hả ? Trời ơi, chừ thì đứt mất đội hình rồi, biết hành quân đi hướng nào ! Rồi ông quát to : Dậy, chạy nhanh, chết cả nút bây giờ ! Tất cả chúng tôi bật dậy, quáng quàng chạy. Thì ra, trước mặt không hề có ai ngồi cả mà chỉ đầy bãi những cây bai bái ( một loại cây dại lúp xúp thấp hơn đầu gối người ). Cậu Xinh vì quá mệt và buồn ngủ ríu mắt lại nên nhìn thấy thế tưởng bộ đội đã ngồi nghỉ, hắn tự động phát ra mệnh lênh. Cú đó may mà đơn vị không ai bị thương vong vì pháo, nếu không, cậu anh nuôi tội nghiệp ấy đã lãnh đủ.
Trở lại chuyện cái ngày tôi và anh Kỳ được giao nhiệm vụ nằm trên đồi An Thái theo giõi tình hình chuyển quân của địch bên đường Chín. Suốt cả một ngày nằm trên đồi, ăn thì đã có cơm vắt, khát thì có bi đông nước mang theo. Nhưng riêng tôi có một nhu cầu rất đau khổ là thèm thuốc. Tôi nghiện thuốc lá từ ngày còn nhỏ ở nhà. Vào chiến trường, thuốc hút của bọn tôi chủ yếu là thuốc quấn cả lá do xin được từ các đoàn dân công từ ngoài Vĩnh Linh vào. Thỉnh thoảng vào ấp, bà con cơ sở có cho vài gói về làm quà cho cả đơn vị. Chiều đó, tôi thèm thuốc quá, người cứ bứt rứt không yên. Anh Kỳ nhìn tôi đoán được cái khổ sở đó. Khi mặt trời sắp khuất núi, chúng tôi chuẩn bị về cứ, thì bất ngờ Kỳ nói : Anh thèm thuốc lắm phải không ? Tôi như sáng mắt ra, hỏi : có cách gì không ? Có- anh Kỳ gật đầu nhanh- Chừ anh theo tôi về thăm mệ tôi, tôi sẽ xin thuốc cho. Tôi hơi ngớ ra : Mệ ở đâu ?Anh chỉ tay về phía ấp Ba Thung : Chỗ đó, ở thôn giữa..gia đình tôi thuộc diện đặc biệt chú ý nên chúng nó bắt ở thôn giữa. Đã lâu rồi tôi chưa về thăm mệ, đêm nay ta vào đi. Thú thực lúc ấy tôi cũng hơi ngại, nhưng phần thì quá thèm thuốc, phần cũng thấy thương anh Kỳ nên gật đầu luôn. Thế là chúng tôi quyết định vào ấp.
Đấy là một đêm tuyệt vời. Trăng mờ đục, nhưng đất làng pha cát bạc nên khung cảnh làng hiện lên rất rõ. Gió nam lại thổi rất to. Tiếng mo cau cà vào thân cau loạc xoạc, tiếng kẽo kẹt phát ra từ những khóm tre, tiếng gió hú qua các mái tôn nghe ro ro như sáo thổi..Mới đầu hôm mà ấp vắng ngát, im lìm. Anh Kỳ dẫn tôi chui qua hàng rào để vào làng bằng lối đi từ phía sau. Nhà Mệ của anh ở gần chính giữa xóm. Anh bảo tôi gác ở ngoài ngõ, anh chui vào nhà. Tôi ép mình ngồi câm lặng, đảo mắt thư thả nhìn bao quát khắp làng. Chưa bao giờ tôi thấy làng quê Cam Lộ lại đẹp như thế, cái đẹp mơ màng trong tĩnh mạc. Vào giờ đó, hầu như tôi quên mất đây là ấp chiến lược, bốn phía có thể là địch và súng có thể nổ xé đêm bất cứ lúc nào. Ở trong nhà vẫn im lìm không hề phát ra tiếng động, tuy nhiên tôi vẫn có thể hình dung ra bà mệ đang sung sướng thế nào khi được ôm lấy cháu. Gần một giờ sau, anh Kỳ ra, vai khoác chiếc gùi căng. Tôi biết chắc trong đó thế nào cũng có thuốc lá. Anh Ký bảo : hay ta ra bằng cổng chính đi ! Tôi vội nói, không, cứ ra đường cũ, đừng mạo hiểm. Anh gật đầu. Chúng tôi lại theo đường vào để trở ra. Hôm sau mới biết , đó là một quyết định sáng suốt.
Về đến cứ, trước khi chia tay, anh Kỳ cho tôi 5 gói Ro-bi. Tôi định sáng mai sẽ chia cho anh em trong tiểu đội. Câu chuyện tôi lẻn vào ấp, cứ tưởng chỉ hai chúng tôi biết. Không ngờ sau hai hôm, bất ngờ tôi bị Tiểu đoàn trưởng gọi lên. Ông quát phủ đầu : Đêm hôm trước cậu vào ấp làm gì ? Tôi ngớ ra chưa biết thanh minh thế nào thì ông bồi tiếp cho một trận nhừ tử, nào là nguyên tắc hoạt động, cơ sở thuộc tuyến nào phải do tuyến đó tiếp cận, nào là muốn vào ấp phải được lệnh chỉ huy, nào là mình là lính quân đội chỉ phối thuộc với địa phương chứ không phải hoàn toàn theo sự chỉ huy của họ .v..v.. Tôi chỉ còn biết cúi đầu vâng dạ. Sau đó tìm gặp anh Kỳ, hỏi vì sao chỉ huy tôi biết. Anh mới kể, thì ra, khi chúng tôi vào ấp, bọn lính Nghiã quân đã phát hiện. Nhưng chúng nó nhát gan, không dám hành động, bèn kéo nhau ra cổng mai phục, đợi chúng tôi trở ra sẽ nổ súng. Nhưng chúng tôi đã không ra đường cổng chính. Sáng hôm sau, chúng nó vào bắt mệ lên nhà Hội đồng, dọa nạt, kể vanh vách rằng đêm qua thằng Kỳ cùng một tên giải phóng nữa vào, thằng Kỳ vào trong nhà, tên giải phóng ngồi canh ngoài cổng v..v..Đêm sau nữa, tổ công tác của huyện vào bắt liên lạc với mệ, mệ đã kể lại cho họ nghe. Thế là tổ đó về thắc mắc với huyện ủy là anh Kỳ đã tùy tiện đi vào bắt liên lạc trái tuyến. Anh Kỳ cũng bị phê bình như tôi...
Sau gần 40 năm, khi cùng làm việc với nhau ở tỉnh, có lần tôi đã nhắc lại kỉ niệm này với anh Kỳ. Nhưng có vẻ anh không nhớ. Anh Kỳ là một nhân vật nổi tiếng của vùng đất ấy suôt cả thòi kì đánh Mý, chắc chắn trong anh ngổn ngang bao nhiêu là kí ức hào hùng.Con người ta, ký ức cũng như tiền của, tư trang vật dụng, hoặc là ảnh chụp lưu niệm, nếu nhiều quá đôi khi nó nhòa đi, không sao nhớ hết. Nhưng với riêng tôi, những kí ức như thế là của hiếm, cũng như những mảnh làng Cam Lộ, dù chỉ gắn bó với tôi mấy tháng thôi, nhưng mãi mãi lấp lánh trong tâm thức tôi như những mảnh trăng, cứ vằng vặc suốt cuộc đời và trong từng trang viết.
Trại viết Cam lộ tháng 8/2008
Đăng ngày 05/08/2008
Ý kiến về bài viết | ||||||||||||||||||||||||||||||||||
|